image banner
CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA XÃ THIỆU QUANG

 

Thực hiện Nghị quyết số 1868/NQ-UBTVQH 15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã tỉnh Thanh Hoá, xã Thiệu Quang được thành lập trên cơ sở nhập 5 xã: Thiệu Duy, Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh, Thiệu Giang, Thiệu Quang. Đây là vùng nằm ven sông Chu, sông Mã, giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, nơi hội tụ nhiều di tích tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa.

Trên địa bàn xã hiện có 01 di tích cấp Quốc gia và 07 di tích cấp tỉnh (lịch sử, văn hóa), phản ánh sinh động quá trình hình thành, phát triển của phong trào yêu nước, cách mạng và bản sắc văn hóa của người dân địa phương. Những di tích ấy không chỉ là chứng tích của lịch sử mà còn là nguồn lực tinh thần quý giá, góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

CÁC DI TÍCH TIÊU BIỂU

1. Múa đèn chạy chữ ở xã Thiệu Quang

(di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia)

Nhân Cao là ngôi làng cổ thuộc xã Thiệu Quang (Thiệu Hóa). Trải qua thăng trầm thời gian, biến ảo lịch sử, ngôi làng ấy đến nay vẫn còn lưu giữ được nhiều giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống. Trong đó, múa đèn chạy chữ được các thế hệ con cháu làng Nhân Cao gìn giữ, bảo tồn và phát huy trong niềm yêu thích, tự hào.

https://photo-baomoi.zadn.vn/w700_r1/2022_01_15_361_41514003/b48f5810fe52170c4e43.jpg

Đội văn nghệ làng Nhân Cao (xã Thiệu Quang, Thiệu Hóa) tham gia biểu diễn tiết mục “Múa đèn chạy chữ” tại Liên hoan Văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII năm 2020.

Múa đèn chạy chữ làng Nhân Cao có từ bao giờ chẳng ai biết rõ. Chỉ biết được rằng, múa đèn chạy chữ gắn liền với lễ hội Ngư võng phường của làng. Lễ hội được tổ chức vào bốn ngày (từ ngày mùng 8 đến 12 tháng Giêng âm lịch hằng năm). Trong lễ hội, làng tổ chức nhiều hoạt động, trò chơi, trò diễn dân gian như: rước thuyền, đánh đu, chọi gà, đánh cờ người, múa lân... Đặc sắc nhất phải kể đến hát chèo chải và múa đèn chạy chữ.

Múa đèn chạy chữ xã Thiệu Quang có đội múa gồm 12 cô gái hát hay, múa dẻo được làng “chọn mặt gửi vàng”, mặc váy đen dài chấm gót, áo tứ thân màu nâu, đầu quấn khăn đỏ, tay cầm dải lụa dài khoảng hơn 2m màu hồng. Đội múa xếp thành hàng ngang, đầu đội đĩa đèn, mỗi đĩa có 5 ngọn đèn. Những cô gái thực hiện các động tác múa một cách uyển chuyển, khéo léo.

Trên nền nhạc múa hát giáo đèn: Kính trình làng nước/ Lẳng lặng mà nghe/ Chúng tôi giáo đèn/ Đèn tôi nay lưu truyền kế thế/ Thắp đèn lên chầu chực đế vương/ Thắp đèn lên rạng cả bốn phương/ Thế mới gọi đèn công đăng hỏa..., đội múa bắt đầu màn trình diễn ấn tượng của mình. Khi đoạn “hát chúc” cất lên, 4 người tiến lên múa hát, 8 người xếp hàng ngang. Sau đó đến đoạn “hát mời”, bốn người vừa hát xong lùi xuống, bốn người khác tiến lên hát tiếp. Đến khi “hát mừng” thì cả đội múa lượn vòng tròn, nằm xuống đất lật người xếp thành bông hoa năm cánh. Rồi từ đó di chuyển thành một hàng ngang nhìn lên ban thờ, hai tay nâng đĩa đèn trên đầu xuống lạy tạ rồi rời sân khấu.

Picture 1

Theo cùng với dòng chảy thời gian, múa đèn chạy chữ xã Thiệu Quang từng có thời gian bị mai một. Sau này, được sự quan tâm của các cấp, các ngành, nỗ lực của chính quyền địa phương cùng các thế hệ cháu con làng Nhân Cao, múa đèn chạy chữ dần được khôi phục, phát triển.

Theo điệu giáo đèn, hát mừng, hát chúc..., chúng tôi ghé thăm gia đình bà Nguyễn Thị Thủy (thôn Nhân Cao 2, xã Thiệu Quang) để hiểu rõ hơn về tình yêu, tâm huyết và những nỗ lực, cố gắng của các thế hệ cháu con nơi đây trong việc gìn giữ, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống làng, xã.

Bà Nguyễn Thị Thủy là con gái làng Nhân Cao. Ngay từ khi còn rất nhỏ, bà vẫn thường đi xem biểu diễn múa đèn chạy chữ vào lễ hội mùa xuân, hội làng. Sau này, lớn lên, bà Thủy lập gia đình với ông Đỗ Viết Lới cũng là người làng Nhân Cao. Mẹ chồng là Nguyễn Thị Chua – đội trưởng của đội múa đèn chạy chữ làng Nhân Cao, người từng đoạt huy chương vàng với tiết mục xuất sắc múa đèn tham gia Liên hoan nghệ thuật quần chúng toàn quốc khu vực III năm 1979 của Bộ Văn hóa và Thông tin. Lúc bấy giờ, đội văn nghệ hoạt động hăng hái, sôi nổi. Bà Thủy chia sẻ: “Trong không gian lễ hội, với tiếng trống, tiếng nhạc, xúng xính váy áo, đầu đội đèn sáng lung linh mà vẫn nhịp nhàng, uyển chuyển điệu múa khiến tôi cảm thấy vừa thích thú vừa ngưỡng mộ”.

Picture 1

Là người có năng khiếu văn nghệ lại có sự yêu thích, say mê, từ sự hướng dẫn, chỉ bảo của mẹ chồng và học hỏi từ các cụ trong đội văn nghệ của làng, bà Thủy có được những hiểu biết sâu sắc hơn về múa đèn chạy chữ. Bà Thủy hăng say tập luyện nhuần nhuyễn từng động tác. Bà Thủy cho biết: “Cái khó nhất của múa đèn chạy chữ xã Thiệu Quang là phải linh hoạt kết hợp nhiều kỹ năng, động tác để làm sao vừa giữ vững được đèn đội trên đầu, không làm cho nến bị tắt mà vẫn nhớ được vị trí, thực hiện được các động tác múa, xếp chữ khác”.

Theo bà Thủy, múa đèn chạy chữ xã Thiệu Quang có điểm giống và khác so với múa đèn Đông Anh (Đông Sơn). Giống là bởi đều thực hiện các động tác múa kết hợp đội đèn với những yêu cầu cụ thể như: múa đẹp, giữ vững đèn đội trên đầu và không làm tắt nến trong khi nhảy múa, xếp chữ. Tuy nhiên, khác so với múa đèn Đông Anh, đèn đội đầu của xã Thiệu Quang gồm có 5 cái cốc gắn lên một cái đĩa, bên trong mỗi cốc đều có thắp nến.

Bà Thủy hiện là một trong những hạt nhân văn nghệ quần chúng của địa phương, đảm nhận vai trò đội phó đội văn nghệ làng Nhân Cao. Đội văn nghệ hiện có 18 thành viên, phần lớn là người cao tuổi. Tiết mục “Múa đèn chạy chữ” do đội biểu diễn thường giành giải cao, gây ấn tượng với người xem tại các sự kiện lớn, các kỳ liên hoan, hội diễn của huyện, tỉnh như: giải nhì tại Liên hoan Văn hóa các dân tộc Thanh Hóa lần thứ XIV năm 2012; giải A tại Liên hoan Văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII tuyên truyền cổ động chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020–2025...

Với tâm huyết, đóng góp trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bà Thủy đạt nhiều giải thưởng như: giải nhất tại Hội diễn nghệ thuật tuổi trẻ toàn huyện năm 1985; giải giọng hát hay tại Liên hoan Tiếng hát người cao tuổi huyện Thiệu Hóa năm 2017... Năm 2021, bà Thủy được đề nghị xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. Bà Thủy tâm sự: “Sự tâm huyết của nghệ nhân như cụ Đàm Văn Sử hay thế hệ cháu con như chúng tôi chỉ là một phần “tiếp lửa”, trao truyền cho thế hệ trẻ. Để gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật múa đèn chạy chữ làng Nhân Cao, cần sự quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa của các cấp, các ngành và xã hội”.

*Bài viết có sử dụng tư liệu trong cuốn sách “Lễ hội Ngư võng phường” của tác giả Hoàng Anh Nhân.

2. DI TÍCH LỊCH SỬ CẤP TỈNH

ĐỀN NGŨ VỊ ĐẠI VƯƠNG ĐƯƠNG CẢNH THÀNH HOÀNG

Địa chỉ: Thôn 1, xã Thiệu Quang

I. TÊN GỌI:

Đền thờ Ngũ Vị Đại Vương Đương Cảnh Thành Hoàng tại thôn Đường Lâm, xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Yên, Tỉnh Thanh Hoá.

Thờ 05 vị:

- Thượng Đẳng đương cảnh Thành Hoàng Phổ Minh

- Tường công Khương Công Phụ;

- Mục Đồng Đinh Tiên Hoàng;

- Đại Vương Tôn Thần Lê Phụng Hiểu và Lý Thường Kiệt ( tức Ngô Tuấn );

- Đại Vương tôn thần tướng công Vũ Hồn.

Picture 1

SƠ LƯỢC VỀ ĐƯỜNG LÂM

Đường Lâm là một làng cổ có từ lâu đời, theo các nguồn tư liệu là đất Khu Hộ, Trung cổ Hiểm, Huyện Yên Định, Phủ Thiệu Thiên, Trấn Thanh Hoá, sau gọi Cổ Hiểm phường, ( niên hiệu Lý Anh Tông: năm 1138 – 1174), có lúc gọi Sở Hộ Nhi, khu Hạ Trung Cổ Hiểm, huyện Yên Định về sau đổi là Đường Lâm ( khoảng thời Trần Anh Tông niên hiệu Nguyên Phong 1251 – 1257). Đến năm 1880 về sau gọi là thôn Đường Lâm, đến ngày 01 tháng 7 năm 1887( niên hiệu Đồng Khánh 2) gọi là thôn Nho Lâm. Hiện nay dùng tên là thôn Đường Lâm, xã Thiệu Giang, Huyện Thiệu Yên, Tỉnh Thanh Hoá.

II. ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DI TÍCH:

Từ trung tâm Thành phố Thanh Hoá theo đường 47 đi Ngã Ba Chè, gặp đường tỉnh lỵ I, qua cầu Vạn Hà về ngã ba Phong Phú 23km, đi theo đê xuôi bờ Nam sông Cầu Chày 3km là đến di tích Đền Thờ Ngũ Vị, có thể đi bằng ô tô, xe máy.

III. SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ:

Vùng đất Cổ Hiểm, Cổ Bi sau này đổi thành Đường Lâm là một vùng đất cổ,: Phía Bắc giáp thôn Tường Lâm, xã Định Thành ( quê hương Khương Công Phụ); Phí Đông Nam giáp Thôn Nhân Cao và Trí Cường xã Thiệu Quang ( xưa là Lỗ Tự), là một xã có từ xa xưa; Phía Nam giáp Đầm xã Thiệu Duy cũng là một làng cổ xưa.

1. Vùng Đất Đường Lâm là nơi có cảnh đẹp mà vua Lý Anh Tông đã hai lần qua đây. Lần đầu tiên trong một lần đi tuần du vẵng cảnh đến ấp trang cổ Hiểm Phường, huyện An Định vua thấy đất này Long hành Thuỷ dẫn, non sông một dải” Vua rất thích đất đẹp mà linh thiêng này. Về sau bỗng có giặc Xiêm Thành xâm lấn nước ta, nhà vua lại đưa xe kiệu đi chinh chiến, tiến thẳng đến vùng trag Cổ Hiểm Phường thì bổng trời đất tối tăm, gió nổi, mưa tuôn quân lính không thể đi được, nhà vua bèn đóng đồn binh ở đất này. Đếm đó Vua Lý Anh Tông mộng thấy một vị thần áo mũ sáng loáng, tây cầm kim Giản vàng đứng trước mặt vua nói rằng “ Bản thân chính là thần của non sông nước Nam chấn giữ ở đất này, nay gặp lúc nhà vua đem quân đi đánh giặc, linh thiêng hiện lên, tình nguyện theo giúp sức cho nhà vua”…

Sau khi thắng trận trở về, vua sai các quan lại triều đình đem sắ chỉ nhà vua đến bản ấp Hộ Nhi Trang Cổ Hiểm phường, lập một đền thờ linh thiêng ở ngay nơi lập đàn cầu đảo, trước để phụng thờ hương khói, cấp thêm tiền ba chục quan, ơn lĩnh, ơn lệ ba chục quan, phong thưởng chữ đẹp “ Thượng Đẳng Tối Linh Thần”, cùng Đất nước lớn lao, trường tồn, thịnh vượng.

Phong đương Cảnh Thành Hoàng linh thiêng để cứu tế, bảo hộ lớn lao, hiệu là Phổ Minh Thượng Đẳng tối linh thần Đại Vương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh hoá phụng thờ”.

( Trích Ngọc phả Nguyễn Bính soạn)

Về sau các đời vua đều đến đền thờ để cầu đảo, đều được linh ứng nghiệp, bảo hộ nước, cứu giúp dân, đều được phong tặng những chữ đẹp Thượng Đẳng Phúc Thần.

2. Thời Trần Thái Tông ( năm 1232 – 1257) có ông họ Vũ tên Kiên huý Hồn, tuổi vừa 33 ông là một người cường dũng, có trí tuệ dưới chân tướng người có vết đỏ điểm chữ “ Ngư Giác” là người trang Hoàng Xá, huyện Thiên Phúc, trấn Nghệ An, sinh giờ Ngọ ngày 22 tháng 11 năm Ất Mão ( 1198).

Vũ Hồn là con người khách lạ, dùng tài xuất thân vua Trần rất yêu, phong ông là Nội Thị Hầu Vệ Quân Kim Ngô ( cung doanh). Sau khi nhận thức được 18 năm đến niên hiệu Nguyên Phong (1251 – 1927) có giặc Nguyên mông đến xâm lược, nhà vua cho cầu tìm nhân tài để phá giặc, sẽ được phong tước ấp rất hậu tức thì ông đến yết kiến xin bí mật đi tuần tra các xứ hiểm yếu trong nước, một hôm ông đi đến khu Hạ trang Cổ Hiểm, huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên thấy non sông nơi đây vây quanh dân cư một dải là nơi đất hiểm trở, bèn đóng đồn binh ở đây để làm tuần tra giữ gìn, bổng một hôm thấy ông Lê Công Vinh ở bản khu đây đến yết kiến, ông bèn hỏi và

Ông Lê Công Vinh nói rằng “ Ấp khu bản trang chính là đất dụng võ”. Ông Vũ Hồn nói lại: “ Nay đi tuần đáng giặc từ chỗ khó có thể, nay thấy ông Lê Vinh nói vậy , bèn có mư kế tiến binh”. Quân Trần bày biện trận lấy sông nhỏ làm giới hạn chiêu tập nhân dân bản khu theo mưu giữ ở đồn sứ bản doanh, ông mỗi đêm bí mật đến khám sét trại sở giặc, bổng ở, bổng lại đi thoát về bí mật quân giặc không thể biết, ông tiến thẳng đánh một trận giặc phải rút hết, ông bèn tiến về trại đồn sở mở yến tiệc mừng quân, dân và tâu lên nhà vua, nhà vua thưởng thêm cho dân bản khu, kèm miễm thuế 6 năm. Về sau cấp đất cho bản khu làm đất, lập ấp nhà vua chấp nhận, từ đó nhân dân bản khu nhớ đến đức trạch của ông, về sau nguyện làm thần tử, theo thờ hương hoả, phụng sợ thần. Ông Vũ Hồn già bị bệnh mất ngày 5 tháng 7 âm lịch. Nhân dân bản khu tiến hành lễ điếu vọng lập đền thở ở trước chỗ đồn sở để thờ phụng và đăng biểu tấu đến vua Trần, vua Trần liền cấp sắc chỉ khen phong chữ đẹp Trung Đẳng Thần, ban thưởng tiền công cho nhân dân thêm hai chục quan.

Phong Đương Cảnh Thành Hoàng oai hùng nổi tiếng giúp đỡ. Tên kiêng huý là Kim Ngô Thị Nội hầu Trung Đẳng Phúc Thần Đại Vương, cho phép chính sở Hộ Nhi đất hạ khu trang Cổ Hiểm huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên phụng thờ thần. Về sau này việc dùng binh nhưng đều đến đền thờ thần yết kiến để cầu để cầu xin với nỗi niềm linh ứng, trải qua các triều đều có sắc phong mỹ tự.

3. Khương Công Phụ:

Quê ở Cẩm Cầu ( Hoa Cầu) xã Sơn Ôi, Ai Chân nay là thôn Tường Vân, xã Định Thành, huyện Thiệu Yên năm 786 ông đỗ đầu kỳ thi tiến sỹ nhà Đường( Trung Quốc lúc đó chưa có học vị Trạng Nguyên). Khi có học vị trang nguyên ông được coi là Trạng Nguyên 2 nước .

Ông làm quan nhà Đường từng giữ các chức vụ: Hiệu Thư Lang Hàn Lâm học sỹ, Giám Nghị Đại Thư ĐồngTrung thư môn hạ Bình Chương Sự, Tể Tướng.

Ông là người có ý thức vì dân mà mở đầu chiếu của vua Đường Đức Tông phong ông làm tể tưởng đã nêu rõ ý đó, ông lại là người cương trực, kiên quyết khuyên vua không làm điều gì sai mà bị cách chức…

Trên đây là những việc ông làm với dân với nước chung, còn ngay trên quê ông, ông đã là người mở đầu cho giáo dục và có công mở làng ở Đường Lâm Trang Cổ Hiểm, nên sau khi ông mất nhân dân ở Trang Cổ Hiểm liệt ông vào bậc thần, thờ cùng các vị thần khác.

TRÍCH ĐOẠN VĂN BÀI TẾ

Bản xã tiên hiền ; Đường bình chương sự Khương Tướng Công tự phụ, Tri chế các tự công phúc, bản thôn hậu học, chi huyện Nguyễn Bá Đề chính công tự Đình Ích, cùng vân hội gia tiên các họ; Nguyễn, Lê, Trần, Ngô, Trịnh, Bùi… cùng về kính báo bậc chí thánh, Cung La Vạn Thiện:

Đức nhất tam tài: Hợp tựa thu đương sáng lạng;

Hỗn hợp nguyên khí mệnh mang vì tông thánh nhân nghĩa muôn đời

Mà mở đầu văn tự của trăm nhà, đạo đó lớn thay khai thác sáng từ muôn thuở trước

Tôn sùng mở dậy tới mai sau: Trung chính trực thời đẹp, kéo dài qua đinh đời sau.

Kính bầy nghi lễ, chở rót kim bôi, xin giúp giành tâm chứng giám ngâm phò đạo mạch mãi bồi. từng bước lên bờ trấn động Nho Lâm, bước qua cửa võ nôm 3 cấp rằng học tiến dần qua vực thánh, vui ngang tiếng sét đất bằng.

Nhà tài tử đeo đai ngọc:

Giá văn nhân, nặng vàng bôi thực là nhờ ơn các bậc thiên nhân

( Theo bản dịch của Bùi Xuân Vỹ)

4. Tại đền còn thờ Đinh Tiên Hoàng theo cớ liệu thì ngày xưa ông có du ngoạn tuần du phủ và nghỉ lại trang ấp nên địa phương có thờ tự.

5. Lê Phụng Hiểu:

Ông quê ở làng Băng Sơn, xã Hoàng Sơn, Huyện Hoàng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Sử chép Phụng Hiểu khi còn nhỏ đã có sức vóc mạnh khoẻ hơn người, từng giúp dân làng đánh nhau với thôn bên giành lại ruộng đất bị chiếm. Vua Lý Thái Tổ nghe danh dùng làm Tường thăng đến chức Vũ Vệ Tướng Quân, Năm Thuận Thiên thứ 19 (1027), vua Lý Thái Tổ mất, ba vị vương là Đông Chinh, Dực Thánh và Vũ Đức muốn giành ngôi của thái tử Phật Mã bèn đem quân phục sẵn trong cấm thành, vây bức thái tử ở trong cung, Phụng Hiểu nổi giận, rút kiếm xông vào ra cửa Quảng Phúc, quát ắng ba vương, rồi xông thẳng tới giết chết Vũ Đức Vương, đánh tan quân của ba vương khiến Đông Chinh và Dực Thánh vương phải bỏ chạy. Do công lao ấy ông được phong Đô Thống Thượng Tướng Quân, ban tước hầu, sau này ông lại theo vua Thái Tông đi đánh Chiêm Thành, làm tiên phong phá tan quân giặc, được vua thưởng công bằng cách cho đứng trên núi Băng Sơn ném đao lớn đi xa đến chỗ náo thì được ban bố đất đó làm sản nghiệp.

( Trích toàn thư Thanh Hoá tỉnh chí …)

Trường hợp Lê Phụng Hiểu được thờ tại Đường Lâm được truyền lại, do Đường Lâm và Đầm xá có tranh chấp, dân nhớ ơn mà phụng thờ, thàn phả ghi: “ Thần thân trợ lực, tức Lê Phụng Hiểu trang Cổ Hiểm”. Lê Phụng Hiểu cùng Lý Thường Kiệt cũng được tôn thờ ở đây, vì bênh vực quyền lợi ruộng đất cho Cổ Bi cũng có sự tích này.

Nhìn chung cơ sở tương đối vững chắc, về các vị thần được thờ tại đền đều mang hết ân đức giúp dân, giúp nước và đặc biệt giúp làng, nên được làng thờ phụng. song các vị thần đều được pháp lý hoá nhà nước qua các triều đều phong tặng nhiều chữ đẹp cho các vị.

IV. LOẠI DI TÍCH

Đền Thờ Ngũ Vị Đại vương Đương cảnh Thành Hoàng, thôn Đường Lâm xã Thiệu Giang là nơi thờ các vị thần có nhiều công lao với dân., với nước, nên di tích thuộc loại lịch sử. Các phong tịc, tập quán cũng như việc nhân cách hoá sự linh thiêng của các vị trở thành niềm tin và là hướng tu luyện của mọi người mang tầm với thời đại nên di tích mang dấu ấn văn hoá thời đại, mặt khác các nguồn tư liệu hán nôm đặc biệt cho công tác nghiên cứu, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hoá vô cùng quý giá nên di tích Đền Thờ Ngũ Vị Đại vương Đương cảnh Thành Hoàng thực sự là di tích lịch sử văn hoá.

V. KHẢO TẢ DI TÍCH

Với vị trí địa lý nơi có cảnh đẹp với thế đất “ Long hành, thuỷ dẫn”, non sông một giải vua rất yêu thích, đất đẹp linh thiêng, hơn nữa thiên nhiên đã phú cho vùng đất, nơi mà vua Lý Thánh Tông đã cầu đảo được linh ứng, lại sắc chỉ cho các quan lại Triều đình mang tiền của đến lập đền hương khói, phụng thờ về sau Vũ Hồn lại lập đồn đánh thắng quân Nguyên Mông năm 1257, chứng tỏ đền là linh ứng lại có vị trí chiến lược tôtc nhất.

Đền thứ nhất : ở đất có cục hình rồng toạ đông hướng về tây, chính cụ Càn Tốn, trước án tam linh, Hậu trẫm gối sau núi, tả rồng hữu hổ chính đất anh hùng.

Đền thờ thứ hai: Đất cục Rồng, toạ Càn, hướng Tốn( chếch Tây Bắc nhìn về Đông nam 45 độ.) tả Kim Hữu Mộc, trước kim sau mộc đất chính linh thiêng cắm xứ bên sông nhỏ.

Do hoàn cảnh tự nhiên cũng như biến thiên, lịch sử khu đền không còn nguyên vẹn mà chỉ còn nền móng củ, đồng thời phục hồi ngôi nhà ba gian tương ứng với hướng cũ, vìđúng hướng cũ bị đê chắn trước, phía sau thì do đổi dòng nguồn nước nên đền hiện nay buộc xoay lệch hướng Đông Nam . Đền hiện tại thuộc thửa đất số 382 nằm ở vệ đê, Bắc giáp bãi cát, Nam giáp đê, Đông giáp …. Tây giáp bãi cây. Với diện tích khu vực I 500m 2 dài 30m, rộng 17m; khu vực II là ao hồ phí trước 500m 2 , phía sau đồi cây 500m 2

Diện tích xây dựng đền thờ dài 10m, rộng 6m = 60m 2 , phàn sân đền cây cảnh 17m x 15m = 255m 2 , sân hẹp 10m x 6m = 60m 2 .

Bài trí đồ thờ

Hương án tiền là bát hương, hội đồng thờ các chủ vị, cấp thứ 2 thờ 3 vị. bên phải là thờ Khương Công Phụ, ở giữa thờ Lê Phụng Hiểu, bên trái thờ Lý Thường Kiệt ( tức Ngô Tuấn).

Cấp trên thờ 3 vị : bên phải là thờ Đinh Tiên Hoàng, ở giữa thờ thần Phổ Minh – Thượng Đẳng tối Linh Thần, bên trái thờ Vũ Hồn. Đồ thờ gồm 6 bình hương, thờ 6 vị long ngai, Giao Ỷ, Thần Vị, 3 vị ở cấp trên, cấp thứ 2 chỉ có thần vị 3 vị, các đồ thờ còn có hòm sắc, ống sắc, bộ đài lớn, bộ đài nhỏ, …1 kiệu long đình, hộp đựng y phục, tráp văn, đựng các văn bản hán nôm như Ngọc phả.

VI. GIÁ TRỊ DI TÍCH

Di tích Đền Thờ Ngũ Vị Đại vương Đương cảnh Thành Hoàng thực sợ có giá trị lịch sử. nơi tưởng niệm phụng thờ các vị thần, có công với nước, với dân đồng thời là những dấu son lịch sử về quá trình đấu tranh của lịch sử dân tộc.

Các tư liệu hán nôn, ngọc phả, thần phả, sắc phong thực sự có giá trị trong việc nghiên cứu Văn tự cổ phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử và viết địa chí vùng sông cổ, cũng như việc nghiên cứu giáo dục truyền thống chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương, bảo vệ tổ quốc. Qua bài văn tế Khương Tướng Công Phụ của các thế hệ học trò luôn tôn sư trọng đạo, đúng như các cụ nói “ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” ( một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy), cũng là nói lên luân thường đạo lý của dân tộc.

3.NHÀ THỜ TIẾN SĨ NGUYÊN DỤC

                                                (Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh)

  Địa chỉ: Quyết Thắng, xã Thiệu Quang

Nhà thờ Tiến sĩ Nguyễn Dục xưa thuộc làng Phùng Cầu, huyện Thụy Nguyên phủ Thiệu Hoá (trước nữa là huyện Lương Giang), phủ Thiệu Thiên.

Làng Phùng từ thời xưa là một làng lớn về diện tích và dân cư, lại là nơi có vị trí thiên nhiên đẹp với nhiều cây cổ thụ, nơi có nhiều công trình tín ngưỡng có giá trị như đình, chùa, nghè, miếu, phủ, văn chỉ, võ chỉ... Các lễ hội dân gian và trò chơi dân gian truyền thống tạo nên những giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc của một vùng đất.

Picture 1

Sách  “Quốc triều hương khoa lục”  và “ Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xưa ” NXB Thanh Hoá của nhóm tác giả (Trần Văn Thịnh, Trịnh Mạnh, Lê Bá Chức, Nguyễn Thê Long) đều thống nhất chép: Nguyễn Dục sinh năm 1455, không rõ năm mất, quê ở làng Phùng Cầu - xã Thiệu Thịnh, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Ông đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất (1490) đời vua Lê Thanh Tông năm 25 tuổi, làm quan đến chức Tự Khanh, một chức quan đứng đầu Lục Tự - Tự Khanh, coi xét những việc không thuộc trách nhiệm của lục bộ trong triều đình.

Picture 1

Theo gia phả họ Nguyễn  làng Phùng Cầu được soạn vào năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) do người cháu trong dòng họ là Nguyễn Doãn Tiến phụng soạn và ghi chép, đến niên hiệu Bảo Đại thứ 14 (1940), Nguyễn Doãn Ninh sao lại, trong  Lời thuyết tự cho gia phả  cho biết: Cụ tổ của dòng họ ta vốn là dòng khoa giáp, theo sự tra khảo trong sách  Đăng khoa lục  thì biết được cụ đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất thời Hồng Đức thứ 21. Cụ tên là Nguyễn Cự, tên tự là Tất Dục, tên Thụy là Phúc Đạt, không rõ tên huý là gì. Cụ làm quan đến chức Tự Khanh. Dòng dõi tông phái của gia tộc ta hiện nay vẫn được Văn hội của bản thôn tế tự. Tiên hiền của dòng họ ta là quan đại khoa, khai khoa họ Nguyễn.

Sau khi mãn quan, cụ về an trí ở quê và mất tại đó. Con cháu trong họ lấy ngày 15 tháng Giêng làm đại lễ để con cháu trong dòng họ tưởng nhớ ghi ơn cụ. Sau khi cụ mất được nhân dân trong làng tôn làm bậc tiên hiền và lập thêm miếu thờ Nguyễn Dục tại gốc đa đầu làng để con cháu trong các dòng họ làng Phùng Cầu dâng lễ thắp hương theo tục lệ của làng mong cầu xin cụ phù hộ việc thi cử đỗ đạt của con em trong làng.

Riêng tên tuổi của cụ Nguyễn Dục ngoài việc được ghi trong các sách ngày xưa thì ông cũng được ghi danh trên bảng vàng của văn bia Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Về những đóng góp của Nguyễn Dục khi ông còn làm quan ở triều đình, cho đến những văn từ do cụ soạn thảo còn phải mất nhiều công sức tìm tòi thì mới có thể tìm ra ẩn số, nhưng những cống hiến của Tiến sĩ Nguyễn Dục đối với lịch sử dân tộc thì đã được ghi nhận và khẳng định. Ông là danh nhân của đất nước, của xứ Thanh và quê hương Phùng Cầu.

Nhà thờ cụ Nguyễn Dục có quy mô nhỏ, nhưng đây lại là nơi thờ một danh nhân lịch sử, một nhà khoa bảng được ghi vào sử sách quốc gia. Vì vậy, giá trị lớn nhất của khu di tích chính là mảnh đất đã sinh ra ông và ông đã làm rạng danh cho quê hương về một tấm gương tự học lớn lao. Noi gương Tiến sĩ Nguyễn Dục, con cháu ông sau này nhiều người đỗ đạt, làm quan và có những cống hiến cho quê hương đất nước.

Hiện nay, ở làng Phùng Cầu, ngoài ngôi nhà thờ thì khu mộ của Tiến sĩ Nguyễn Dục ở phần đất Lũng Mái còn có một tấm bia mộ do một người cháu ngoại là Nguyễn Quốc Giảng cung tiến dựng dưới thời vua Tự Đức, ghi tên tuổi, huý hiệu, hơn một lần nữa lưu danh công đức của cụ.

Nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Dục là một di tích có giá trị về nhiều phương diện, về giáo dục truyền thống khoa cử, về lịch sử vùng đất cũng như các truyền thống văn hoá giúp chúng ta hiểu biết kỹ hơn, chính xác hơn, cụ thể hơn về thân thế sự nghiệp của tiến sĩ Nguyễn Dục - một con người có công với làng, với nước rất đáng được ngợi ca và ghi nhận./.

(Trích nguồn: Lý lịch di tích lịch sử - văn hóa nhà thờ Nguyễn Dục, xã Thiệu Thịnh, huyện Thiệu Hoá)

4.NGHÈ THƯỢNG

                                      (Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh)

Địa chỉ: Thôn Nhân Cao 1, xã Thiệu Quang

Nghè Thượng tọa lạc trên thửa đất bằng phẳng, cao ráo thuộc làng Nhân cao, xã Thiệu Quang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc loại di tích lịch sử - văn hóa.

Căn cứ theo sách "Thanh Hoá Chư Thần Lục", do bộ Lễ soạn, biên tập năm Thành Thái thứ 15 (1903) bản chữ Hán chép tay, ký hiệu thác bản VHV 1906 Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội có ghi: xã Như Lăng huyện Thụy Nguyên trước đây thờ 3 nhân vật là: Đô Bác Trịnh phủ quân, Độc Cước tôn thần và Đương Cảnh Linh phù tôn thần.

Picture 1

Hàng năm Nhân dân làng Nhân Cao và khách thập phương thường tổ chức các kỳ tế lễ tại Nghè như: ngày Rằm tháng Giêng, ngày nay còn lưu lại tập văn cúng và nghi thức tế lễ. Nghè Thượng thờ thần Độc Cước, được tổ chức tế lễ thường kỳ của một năm là ngày Rằm tháng Giêng là ngày lễ trọng, mọi người trang phục đẹp đẽ ra Nghè tế lễ. Đoàn người khênh kiệu cùng đoàn rước đi quanh làng, ngoài ra còn tổ chức múa đèn, hát chầu văn, lèn đồng, hình ảnh người lèn đồng khăn áo, điệu múa, âm nhạc, hương khói tạo cho con người thoải mái khi đi dự lễ.

Picture 1

Nghè Thượng là nơi thờ thần Độc Cước, ngoài ra còn phối thờ Trịnh Gia, đương cảnh Linh Phù Tôn thần. Người dân làng Nhân Cao tôn sùng thần Độc Cước, đặt niềm tin vào vị thần vô hình có sức mạnh siêu nhân để trợ giúp cho mọi người vượt qua những khốc liệt của thiên tai, Thần có sức mạnh tự tay xẻ thân làm đôi để bảo vệ cuộc sống yên lành. Sự tồn tại của nơi thờ Thần Độc Cước cũng tượng trưng cho sự trường tồn của làng, xã. Vì vậy mà Thần được người dân tôn thờ làm Phúc thần của làng và được 51 làng, xã trong tỉnh Thanh Hóa thờ phụng, điều đó chứng tỏ việc tôn vinh thần Độc Cước là rộng rãi, đã trở thành yếu tố tinh thần không thể thiếu được trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân.

Các hiện vật còn lại ở Nghè như: Cột đá, chân tảng, bát hương, khay mịch, khám thờ, tượng võ sĩ, ngựa đá, bia đá... là những bằng chứng về sự tồn tại của Nghè và tục thờ của cư dân làng Nhân Cao, hiểu thêm về nét mỹ thuật truyền thống thông qua hiện vật./.

(Trích nguồn: Lý lịch di tích Lịch sử - Văn hoá Nghè thượng)

 

5.ĐÌNH LÀNG CHÍ CƯỜNG

(Di tích Kiến trúc – Nghệ thuật cấp tỉnh)

Địa chỉ: Thôn Chí Cường 3, xã Thiệu Quang

Đình Chí Cường là tên mà nhân dân thường gọi theo tên làng, để phân biệt - các ngôi đình khác trong xã và huyện. Đình được dựng lên phục vụ Nhân dân hội họp và thờ cúng những người có công đối với dân làng, với đất nước.

Làng Chí Cường là tên mới ngày nay, trong tiến trình lịch sử, làng đã nhiều lần thay đổi tên gọi. Xưa kia có tên gọi là xã Lỗ Tự thuộc tổng Phùng Cầu, huyện Thụy Nguyên, ít lâu sau lại đổi thành Tự Cường. Năm 1953, xã Quang Thịnh được chia làm 3 xã gồm: Thiệu Quang, Thiệu Thịnh, Thiệu Hợp và làng Chí Cường được cắt về xã Thiệu Quang và mang tên như ngày nay.

Picture 1

Làng Chí Cường, xã Thiệu Quang, tỉnh Thanh Hoá, phía Đông giáp sông Mã - xã Hoằng kim; phía Tây giáp xã Thiệu Hoá; phía Nam giáp xã Hoằng Xuân; phía Bắc giáp sông Cầu Chày xã Định Hoà. Từ trung tâm tỉnh Thanh Hoá đến di tích bằng cả đường thuỷ và đường bộ khoảng 30km. Xưa kia để đến được các vùng này phương tiện chủ yếu là đường thuỷ trên sông Mã. Xuất phát theo đường thuỷ, từ bến đò Hàm Rồng ngược dòng sông Mã đến ngã ba Giàng thuộc xã Thiệu Dương, đi hết Thiệu Dương qua Thiệu Thịnh là đến bến đò làng Tử xã Thiệu Quang, vượt đê sông Mã đi khoảng 600m vào đến trung tâm xã. Đình Chí Cường nằm ở trung tâm làng Chí Cường xã Thiệu Quang, tỉnh Thanh hoá.

Picture 1

Về nhân vật thờ tại đình làng, căn cứ vào sách “Thanh Hoá chư thần lục”, sắc phong, các tài liệu chữ Hán   và lời truyền ngôn của các cụ cao niên trong làng thì: Đình Chí Cường xưa kia là nơi thờ cúng bốn vị thần:  Đông Hải đại vương, Châu Bảo đại vương, Đổ Lân đại vương, và Hà Tiên cung Thần nữ Quỳnh Hoa công chúa.  Đó là những nhân thần, gắn với nhiều giai thoại, huyền tích giúp dân giúp nước, được dân làng ngưỡng vọng thờ cúng, báo ghi công ơn, cầu mong sự độ trì cho cuộc sống bình yên trong Nhân dân.

- Đông Hải đại vương: Ông tên là Nguyễn Phục, người xã Đoàn Tùng, huyện Gia Lộc, xứ Hải Dương. Khoa thi năm Quý Dậu niên hiệu Thái Hoà thứ 11 (1453), ông đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ, là người hay chữ, văn võ toàn tài, không những lo việc quân cơ, ông còn tham gia việc quan ở chốn quan trường. Năm Quang Thuận thứ - 1463) đời Lê Thánh Tông khoa thi Quý Mùi ông là một trong những người tham gia giám thí kỳ thi.

Trong quảng đời làm quan ông luôn tỏ ra là người thanh liêm ngay thẳng, luôn hoàn thành sứ mệnh của mình, được triều đình trọng dụng, sai đi sứ phương Bắc. Ông là người luôn luôn biết chăm lo cho sự an bình của nhân dân, biết khuyên can vua làm điều tốt, lánh điều ác, được nhà vua yêu mến và khen ngợi. Chính nhờ công lao mà ông được thăng chức “Tham nghị Thừa tuyên Thanh Hoa”.

Picture 1

- Các nhân vật như Đô Lân đại vương, Châu Báo đại vương, Tiên cung thần nữ Quỳnh Hoa công chúa được dân làng phụng thờ, gọi là tứ vị thành hoàng trong làng, hàng năm cứ vào ngày lễ tế dân làng lại rước sắc, cầu tế cả bốn vị thần, về lai lịch tiểu sử của ba nhân vật còn lại, cho tới nay vẫn chưa tìm được cụ thể tên tuổi; các tài liệu thư tịch ghi lại chỉ dừng ở mức độ mỹ tự, không cho biết rõ tính danh. Nhưng chắc chắn những nhân vật làng Chí Cường thờ tự là những bậc thần có công và linh hiển, phò giúp cuộc sống an bình cho nhân dân, được triều đình ghi công ban tặng sắc chỉ, cho phép dân làng phụng thờ, đồng thời ban phong mỹ tự.

Qua di tích chúng ta biết thêm lịch sử vùng đất nơi đây, một vùng quê có bề dày lịch sử, truyền thống yêu quê hương đất nước của cư dân trong làng. Đình là nơi thờ các thần Hoàng làng, đồng thời đây cũng là nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá tâm linh của dân làng.

Đây là một di tích có hệ thống kiến trúc bằng gỗ còn tương đối nguyên vẹn, những mảng chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo đã thể hiện giá trị văn hóa về kiến trúc nghệ thuật của nhân dân ta qua từng thời kỳ. Với những giá trị lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật di tích xứng đáng công nhận là di tích Lịch sử Văn hoá và Kiến trúc Nghệ thuật.

(Trích yếu: Lý lịch di tích Lịch sử - Văn hoá và Kiến trúc Nghệ thuật, năm 2007)

 

6.ĐÌNH ĐA LỘC

(Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh)

Địa chỉ: Thôn Đa Lộc, xã Thiệu Quang

Đình Đa Lộc thuộc thôn Đa Lộc, xã Thiệu Quang, tỉnh Thanh Hoá. Đa Lộc trong quá trình lịch sử cũng có nhiều lần thay đổi tên gọi. Qua tìm hiểu các bậc cao niên trong làng và cuốn lịch sử văn hoá thôn Đa Lộc (lưu hành nội bộ) thì tên gọi xưa nhất của làng Đa Lộc mà dân gian truyền lại là thôn Tự Cầu, tổng Mật Vật, sau đó đổi là thôn Tự Cầu xã Trì Giang, rồi đến thôn Đa Lộc xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hoá và nay là xã Thiệu Quang, tỉnh Thanh Hoá. Theo sách “Đồng Khánh địa dư chí” của viện Hán Nôm, (Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2003, thời vua Đồng khánh (1885 - 1888) thôn Đa Lộc thuộc xã Đông Lỗ, tổng Mật Vật, huyện Thụy Nguyên.

Picture 1

- Về Nhân vật lịch sử:  Căn cứ vào sách “Thanh Hoá chư thần lục”, các sắc phong, các tài liệu chữ Hán và lời truyền ngôn của các cụ cao niên trong làng thì: Đình Đa Lộc thờ cúng hai vị thần: “Cao Minh Quảng Đức, Uy Minh Hoằng Đức”, là những vị thần, gắn với nhiều giai thoại, huyền tích, có công lao đánh giặc cứu nước, giúp dân, được dân làng ngưỡng vọng thờ cúng, ghi công ơn. Khi mất được nhà vua ban tặng mỹ tự, sắc phong. Hiện nay, tại Đình Đa Lộc vẫn lưu giữ được 19 đạo sắc phong cho hai vị thần “Cao Minh Quảng Đức, Uy Minh Hoằng Đức” Đây là hai vị thần có nhiều công trong việc giúp Vua dẹp giặc, che chở cho dân và được dân làng nhớ ơn, thờ cúng.

Picture 1

- Về   lịch sử, kiến trúc ngôi đình:   Căn cứ vào chữ Hán được khắc trên thượng lương thì Đình Đa Lộc được xây dựng vào đời vua Tự Đức niên hiệu thứ 33 (1879). Đinh là ngôi nhà 5 gian, hai chái; 6 vì được kết cấu theo kiểu kèo suốt, trụ chữ đinh chống nóc. Đình nằm trên một khu đất bằng phẳng, quay về hướng Nam. Tổng thể ngôi đình được bố trí rất hài hoà, từ phía Đông đi vào là cổng đình, trong cổng là sân chạy dài theo chiều dọc của ngôi đình, sân đình có diện tích chiều dài 15,4m; chiều rộng 7m được lát bằng gạch bát. Trước sân có 2 tấm bia đá có kích thước bằng nhau: Cao 1,05m; rộng 0,68m; dày 0,17m (bia đã mờ hết chữ). Phía trước sân là đình có chiều dài 15,4m, chiều rộng 7,3m. Phía Nam của ngôi đình có diện tích 1377m 2 . Đây là một di tích được bố trí cấu trúc truyền thống, bố cục hài hoà giữa không gian và kết cấu của ngôi đình.

              Kiến trúc đình Đa Lộc có kết cấu 5 gian, 6 vì, đầu hồi bít đốc, mái lợp 2 lớp ngói liệt và vẫy. Đình có hệ thống cửa, một cửa chính và hai cửa phụ hai bên. Cấu trúc vì kèo đơn giản theo kiểu kèo suốt phía trên. Có tất cả 6 vì kèo bằng gỗ lim, các vì kèo được bố trí giống nhau, kết cấu mỗi vì kèo có 2 cột cái, cột quân, câu đầu nối liền hai cột cái tiền và hậu. Nách trước và sau có con ngang, hai vì giữa không có xà lòng. Liên kết cột quân với cột cái là bẩy trước, bẩy sau. Trên bẩy trước, sau được chạm nổi hoa văn đối xứng với nhau hình hoa văn Tùng, Trúc hoá long. Cột hiên có nhiệm vụ đỡ tàu mái và xà hiên, rui mè bằng luồng. Thượng lương đình được làm bằng gỗ, ở gian giữa thượng lương có khắc chừ Hán ghi niên đại xây dựng đình “Tự Đức thứ 33 (1879)”.

Picture 1

- Giá trị và ý nghĩa của di tích: Đình Đa Lộc là di tích lịch sử văn hoá có giá trị về nhiều phương diện. Là nơi thờ hai vị thần thần đã có công đánh giặc Ai Lao, khi mất được dân làng nhớ ơn, thờ cúng. Đây là công trình kiến trúc gỗ còn tương đối nguyên vẹn, với kết cấu không cầu kỳ nhưng trông rất cổ kính và bền vững. Đình còn lưu giữ được một số hiện vật hết sức có giá trị, tiêu biểu như: Bia đá, 02 tấm; có kích thước bằng nhau: Cao 1,05 m; rộng 0,68 m; dày 0,18 (bia đã mờ hết chữ); Rùa đá: 02 con (cũ); có kích thước bằng nhau: Dài 0,45 m, rộng 0,37 m, cao 14 m (đã bị mất đầu); Ống Sắc: 03 (cũ); Hộp sắc: 03 (cũ); Đá bó hè: có kích thước dài 1,6 m; rộng 0,25 m; dày 0,18 m; Cột cắm cờ đá: 02 (cũ); Sắc phong: 19 đạo sắc và một số hiện vật khác …

Đình Đa Lộc còn là nơi sinh hoạt văn hoá, giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước của Nhân dân trong làng, truyền cho các thế hệ con cháu hiểu rõ hơn lịch sử xây dựng và phát triển của quê hương mình qua từng thời kỳ.

Căn cứ vào nội dung, hiện trạng và giá trị của di tích, đình Đa Lộc đã được Chủ tịch UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa - kiến trúc nghệ thuật năm 2008./.

                         (Trích yếu: Lý lịch di tích LSVH đình Đa Lộc, xã Thiệu Giang,

                     huyện Thiệu Hóa, năm 2008)

7.ĐỀN THỜ – LĂNG MỘ TRẦN LỰU

(Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh)

Địa chỉ: Thôn Chí Cường 3, xã Thiệu Quang

Đền thờ Trần Lựu được xây dựng tại vị trí đầu làng, giáp với hệ thống đê sông Mã, cách UBND xã 2,5km, cách trung tâm tỉnh Thanh Hóa 12km .

Trần Lựu quê ở xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân. Tương truyền, đến thời nhà Nguyễn niên hiệu Tự Đức hậu duệ đời thứ 16 của ông tên là Trần Bỉnh, lúc ấy làm quan Tri phủ huyện Thọ Xuân đã có công tìm lại quê gốc (tức là quê hương của bố Trần Lựu) tại làng Lỗ Tử nên đã cho di dời mộ của Trần Lựu cùng với những người anh em, con cháu khác từ Đàm Thi về Lỗ Tử để thờ phụng.

Picture 1

Tại đây con cháu đã xây dựng đền thờ để thờ tự và trông coi phần mộ của Trần Lựu. Di tích được xây dựng để thờ Trần Lựu là chính, còn những nhân vật khác của dòng họ chỉ là thờ vọng. Tại  đền thờ chỉ có bài vị của Trần Lựu, mà không có bài vị của những người khác. Những nhân vật khác được thờ chính tại các trưởng chi của dòng họ. Vì vậy, di tích có tên là đền thờ và mộ Trần Lựu.

Đền thờ và mộ Trần Lựu thuộc loại di tích lịch sử Tuy nhiên hàng năm, tại đền thờ Trần Lựu vẫn diễn ra những sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng. Tháng Giêng hàng năm có lễ ngày mồng 1 và mồng 3 tết; rằm tháng Giêng làm lễ khai sắc, cả dòng họ mang sắc ra phơi và đọc sắc. Ngày 20 tháng 2 Âm lịch giỗ bố Trần Lựu, cụ tên là Trần Huy Liệu, từng làm quan triều Trần, phong tước Thượng Đình Hầu; ngày 17 tháng 5 Âm lịch giỗ Trần Lựu; lễ rằm tháng Tám; ngày 19 tháng 9 Âm lịch giỗ con Trần Lựu, tức Cố Lê Kim tử Vinh lộc Đại phu, Lễ bộ Thượng thư Đôn Cung bá Trần Ngộ. Ngày 18 tháng Chạp Âm lịch giỗ bà Tổ cô Trần Lệnh Thị, tên hiệu là Từ Lĩnh. Lễ vật trong các ngày giỗ chạp tại đền thờ thường dùng hương, hoa, trầu rượu, oản... không bao giờ dùng lễ mặn.

Picture 1

Cho đến nay không có nguồn tài liệu nào cho biết chính xác về niên đại tại đền thờ Trần Lựu. Theo tài liệu truyền ngôn thì trước đây đền thờ Trần Lựu không phải ở vị trí hiện nay mà nằm ở ngoại đê sông Mã với kiến trúc 5 gian bằng gỗ. Qua năm tháng bồi đắp, ngôi đền cũ này đã bị sạt lở xuống dòng sông. Năm 1864 niên hiệu Tự Đức, dòng họ Trần đã di chuyển hệ khung gỗ còn lại vào trong đê và dựng lại với kiến trúc 3 gian. Đó chính là ngôi đền hiện nay. Từ đó đến nay ngôi đền đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Trên thượng lương vẫn còn lưu lại dòng chữ có nội dung như sau:  “Hoàng Nguyễn Bảo Đại thập nhất niên nhị nguyệt sơ tứ nhật Ngọ khắc tôn tạo Thượng lương đồng tộc đại cát vượng  ”  (Toàn thể dòng họ dựng thượng lương tôn tạo ngôi đền vào giờ Ngọ, ngày 4 tháng 2 niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (1935).  Đến năm 2000 con cháu dòng họ làm mái bằng phía trước đền chính để làm chỗ sinh hoạt trong họ mỗi khi có công việc.

 Khu lăng mộ Trần Lựu nằm dưới chân núi Phúc Nhân (núi Tử) làng Chí Cường, có diện tích 693m 2 . Trong khu mộ có một miếu thờ để làm nơi trông coi khu mộ, đồng thời đặt bát hương của những ngôi mộ. Khu mộ này được xây dựng dưới chân núi Mao, hay còn gọi là núi Tử, ngoài ra còn có tên khác là núi Phúc Nhân. Miếu thờ có kiến trúc 3 gian, bốn vì bằng gỗ, dài 5,7m, rộng 3,2m, cao 3,85m. Hệ vì trong miếu thờ có kết cấu theo kiểu kèo suốt. Hoành tải, rui, mè được làm bằng luồng. Mái lợp ngói máy. Mộ Trần Lựu nằm ở phía trước miếu, có kích thước vuông 3,6m x 3,6m.

Hiện nay, hậu duệ dòng họ Trần, làng Lỗ Tử, xã Thiệu Quang, tỉnh Thanh Hóa vẫn đang trông coi khu mộ của Trần Lựu tại chân núi Mao và cho rằng mộ của Trần Lựu đã được ông Trần Bỉnh, hậu duệ đời thứ 16 của Trần Lựu, lúc đó làm Tri phủ huyện Thọ Xuân di dời từ Đàm Thi về Lỗ Tử. Còn lý do tấm bia mộ của Trần Lựu hiện đang còn ở Đàm Thi là do tấm bia đó xưa kia bị thất lạc, đến khi dời mộ không tìm thấy bia. Sau này, người dân Đàm Thi trong quá trình sản xuất đã phát hiện ra tấm bia và đưa về lưu giữ tại chùa Đầm, Đàm Thi. Năm 2001 dòng họ Trần, Lỗ Tử đã hai lần lên Xuân Thiên, Thọ Xuân để làm thủ tục xin tấm bia về nhưng không được chính quyền xã Xuân Thiên chấp thuận (biên bản làm việc ngày 07/3/2001 và ngày 22/3/2001 hiện đang được ông Trần Quang Nhịp lưu giữ). Cho đến tận bây giờ, tấm bia vẫn đang còn trên chùa Đầm, xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân. Còn ngôi mộ Trần Lựu ở chân núi Mao, làng Lỗ Tử vẫn được con cháu dòng họ hương khói. Các thông tin về ngôi mộ Trần Lựu, theo các cụ cao niên cho biết “Ông cha truyền lại đó là mộ của Trần Lựu thì con cháu thờ cúng”.

Như vậy, qua những nguồn tư liệu thành văn cũng như truyền miệng thì đến nay cũng chưa khẳng định chắc chắn mộ của Trần Lựu đang ở Xuân Thiên hay đã được di dời về Lỗ Tử. Nhưng có một thực tế là từ xưa đến nay, con cháu dòng họ Trần ở làng Lỗ Tử vẫn thực hành nghi lễ thờ tự tại đền thờ và mộ của ông ở địa bàn xã Thiệu Quang hiện nay.

Trần Lựu là một trong những Khai quốc Công thần nhà Lê, là một dũng tướng tài ba, có công to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV. Do đó, việc thờ cúng Trần Lựu không chỉ có ý nghĩa riêng của dòng họ, con cháu mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân, mang ý nghĩa giáo dục truyền thống lớn lao.

Đền thờ với sự hiện tồn của các di vật còn lưu giữ được như hệ thống ngai thờ, câu đối, sắc phong, gia phả, bia đá và một số di vật có giá trị nghệ thuật là những minh chứng cho việc bảo vệ, trân trọng gìn giữ những nét đẹp cổ truyền của cháu con dòng họ và người dân nơi đây. Đồng thời những giá trị đó giúp các nhà khoa học có thêm tư liệu nghiên cứu về một nền kiến trúc, mỹ thuật và phong tục truyền thống ở vùng đất Lỗ Tử.

 Đền thờ và lăng mộ Trần Lựu có vị trí đặc biệt quan trọng trong tín ngưỡng thờ tổ tiên và truyền thống “Uống nước nhớ nguồn của con cháu dòng họ Trần nói riêng và người dân vùng Thiệu Quang nói chung đó là sợi dây tâm hồn cố kết sự đoàn kết của toàn thể các thành viên trong dòng họ Trần với các dòng họ khác trong địa phương này.

Tại đền thờ, hàng năm vào các ngày giỗ quan trọng, dòng họ tổ chức tế lễ, thực hiện các nghi thức quan trọng của việc thờ tự. Đồng thời, dòng họ Trần cũng có những quy định riêng của mình trong việc tổ chức tế lễ. Thông qua các hoạt động tín ngưỡng lành mạnh đó chúng ta thêm hiểu về truyền thống và đạo lý tốt của con người nơi đây. Bên cạnh đó, hoạt động văn hoá tích cực khác đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục truyền thống lịch sử - văn hóa cho các thế hệ trẻ. Đây là một trong những vấn đề cốt lõi trong việc giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc.

Với các giá trị lịch sử và văn hóa đền thờ và mộ Trần Lựu đã được xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số 169/VHQĐ, ngày 13 tháng 6 năm 1994.

(Trích yếu: Lý lịch di tích Đền – Lăng mộ Trần Lưu, xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa năm 2017)

8.NÚI BẰNG TRÌNH – CHÙA THÁI BÌNH

                                (Di tích Lịch sử – Văn hóa và thắng cảnh cấp tỉnh)

Địa chỉ: Thôn Nam Bằng 1, xã Thiệu Quang

Núi Bằng Trình - chùa Thái Bình nằm trong quần thể di tích thắng cảnh Bàn A Sơn nổi tiếng của xứ Thanh và cả nước. Đã có nhiều sách của người xưa ở Việt Nam và Trung Quốc chép về vùng đất này như là một miền hội tụ tiêu biểu của lịch sử, thắng tích ở vùng tam giác hạ lưu châu thổ sông Mã, sông Chu. Sự phân bố của cụm di tích thắng cảnh này trước đây nằm ở xã Đại Khánh (huyện Thiệu Hoá) ở hai bờ của sông Chu; ngày nay thuộc địa phận phường Đông Tiến và xã Thiệu Quang. Từ năm 1990 thắng cảnh Bàn A Sơn đã được xếp hạng là di tích thắng cảnh. Núi Bằng Trình là một trong 10 cảnh đẹp tạo nên thắng tích Bàn A Sơn nằm ở phía tả ngạn của Sông Chu thuộc địa phận xã Thiệu Quang.

Picture 1

Cụm di tích thắng cảnh núi Bằng Trình và chùa Thái Bình dưới thời Lê thuộc làng Bằng Trình, huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hoá. Vùng đất này trong lịch sử có nhiều sự thay đổi. Đầu thời Nguyễn địa bàn huyện Thiệu Hoá ngày nay thuộc 3 huyện là Thụy Nguyên, Lôi Dương và Đông Sơn (đều thuộc phủ Thiệu Hoá). 15 xã phía tả ngạn sông Chu từ thời Trần về trước (trong đó có xã Thiệu Quang) thuộc địa bàn huyện Lương Giang (vì có sông Lương tức sông Chu chảy qua). Đời Lê (Thuận Thiên) đổi thành huyện Ứng Thụy, đến đời Lê Quang Thuận lấy lại tên cũ là Lương Giang. Từ đời Lê (Đoan Khánh - đầu thế kỷ XVI) đổi tên là huyện Thụy Nguyên. Huyện này còn gồm cả một phần huyện Thọ Xuân và Ngọc Lặc hiện nay. 5 xã phía hữu ngạn sông Chu (ở phía Tây huyện hiện nay) thuộc địa bàn huyện Lôi Dương. Thời Trần về trước là huyện Cổ Lôi. Đời Lê (Quang Thuận) đổi là huyện Lôi Dương. Huyện này còn bao gồm một số xã thuộc các huyện Thọ Xuân và Triệu Sơn hiện nay. Từ năm 1826 huyện Lôi Dương tách khỏi phủ Thiệu Hoá để nhập vào phủ Thọ Xuân. 11 xã còn lại phía hữu ngạn sông Chu thuộc địa bàn huyện Đông Sơn. Huyện này xưa kia là Đông Dương và Đông Cương. Từ thời Trần đổi là huyện Đông Sơn. Từ năm 1900 tách 2 tổng Vận Quy và Đại Bối (địa bàn 11 xã hiện nay) khỏi Đông Sơn và nhập vào huyện Thụy Nguyên. Từ sau Cách mạng tháng Tám, huyện Thiệu Hoá được thành lập bao gồm phần đất tương đương như hiện nay.

Picture 1

Xã Thiệu Hợp (cũ) gồm có 5 làng: Làng Chấn Long từ đầu thế kỷ XIX đến trước năm 1945 là làng Nạp thuộc xã An Xá, tổng Phùng Cầu, huyện Thụy Nguyên; làng Yên Xá trước đây là Quảng Xá; làng Năm Bằng và Bắc Bằng là hai lùng tách ra từ làng Bằng Trình (tên nôm là làng Trịnh), từ đầu thế kỷ XIX và làng Thắng Long có từ đầu thế kỷ XIX. Riêng làng Bằng Trình có núi Bằng Trình vốn là vùng đất cổ - nơi có Núi Bằng Trình đã chứng kiến nhiều trận đánh chống lại quân xâm lược như Đông Hán ở thời kỳ Hai Bà Trưng (năm 43) và các trận quyết chiến giữa quân Mạc và quân Trịnh ở thế kỷ XVI. Nhiều  sưu tập hiện vật ở đây đã chứng minh điểu đó. Ngoài giá trị về mặt lịch sử, núi Băng Trình và chùa Thái Bình còn là một thắng tích quan trọng của tỉnh Thanh Hoá cần được giữ gìn bảo vệ và phát huy tác dụng.

Núi Bằng Trình là ngọn núi đá có hình thù và màu sắc rất đẹp nổi lên ở vùng đồng bằng hạ lưu sông Chu, sông Mã, nó hợp với núi Vồm (còn gọi là núi Bàn A) ở xã Thiệu Khánh để tạo nên vùng thắng tích nổi tiếng đã dược các bậc vua chúa và danh sĩ thời xưa cũng như ngày nay “du ngoạn và nhã thú”. Vì vậy khi nói đến Bằng Trình không thể tách rời thắng cảnh Bàn A Sơn. Sách Lịch triều Hiến chương loại chí   cũng như sách Đồng Khánh Địa dư chí khi viết về vùng này đều gọi quần thể di tích này làm một để tạo nên vùng thắng cảnh rộng lớn và hoàn chỉnh với mười cảnh đẹp.

Quan sát trên thực địa thấy núi Bằng Trình nằm bên tả ngạn sông Chu, ấn ngữ những điểm nút, ngã ba của ba xã Thiệu Hợp, Thiệu Dương, Thiệu Khánh. Ngã ba của sông Chu, sông Mã, hai con sông lớn nhất của tỉnh Thanh Hoá cùng với núi Vồm (núi Bàn A), núi Đọ (Thiệu Tân) tạo ra thế chân kiềng vững chãi. Là một ngọn núi độc lập đứng bên tả ngạn cua sông Chu. Dưới chân núi có chùa Thái Bình, cửa chùa trên đỉnh núi đối diện với núi Bàn A đã tạo nên cảnh đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên Bàn A Sơn.

Về mặt lịch sử, từ thời Hai Bà Trưng, sau khi chiếm được huyện lỵ Dư Phát, Mã Viện đã đưa quân thủy bộ, ngược sông Lèn rồi theo đường sông Mã đến Ngã ba Đầu (nơi hợp lưu của sông Mã và sông Chu) để tấn công Tư Phố (làng Giàng, Thiệu Dương) với ý đồ là tiêu diệt bằng được lực lượng quan trọng này của nghĩa quân, nơi mà Cừ Súy Cửu Chân là Chu Bá đang đóng giữ. Nhưng khi đến núi Bằng Trình, quân Mã Viện đã phải đương đầu với lực lượng chính của nghĩa quân tại núi này. Kết quả nghiên cứu khảo cổ về thời kỳ Hai Bà Trưng đã có kết luận về trận quyết chiến chiến lược này. Sưu tập hiện vật ở núi Bằng Trình khá phong phú với đủ các chất liệu: đồ đá, đồ đồng và đổ sắt. Đặc biệt đã tìm thấy 33 mũi tên đồng gồm hai loại: loại có họng và loại có chuôi. Riêng loại có chuôi chiếm hơn 80% tổng số mũi tên được phân thành 3 nhóm với nhiều kiểu dáng và kích thước khác nhau. Nhiều chiếc đã bị cong, bị sứt mũi, hoặc gãy chuôi. Tất cả đều cắm vùi một hướng, rải rác trên sườn phía đông nam núi Bằng Trình. Sự phong phú về kiểu dáng của sưu tập mũi tên này, dẫu không nhiều về số lượng như kho tên đồng cổ Loa, nhưng đã phản ánh một thực tế lịch sử, những mũi tên này được sản xuất từ nhiều vùng khác nhau của đất nước và đã theo chân các dân binh Lạc Việt vào trận đánh quan trọng này.

Cũng ở địa điểm núi Bằng Trình, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy rất nhiều tàn tích chiến tranh khác như mảnh xương sọ, xương ống chân, ống tay người.... kết hợp với nhiều nguồn tư liệu khác nhau như khảo cổ học, địa lý học, lịch sử, thư tịch cổ.. nhiều nhà nghiên cứu đã có những nhận định thống nhất khi nói về trận đánh ở núi Bằng Trình (Lịch sử Thanh Hoá tập 2 NXB KHXH-Hà Nội 1994, tr38). Như vậy, xét về mặt thắng tích, núi Bằng Trình là một trong 10 cảnh đẹp của quần thể di tích Bàn A Sơn; về lịch sử là di tích lịch sử tiêu biểu của thời kỳ Hai Bà Trưng; về mặt địa chất là ngọn núi có thành phần đá núi đẹp đẽ nhiều màu sắc vì thế ngọn núi này cần phải được bảo vệ để sự tồn tại của nó góp vào khung cảnh thiên nhiên của một vùng đất có cảnh trí đẹp đỗ và nên thơ.

Chùa Thái Bình, là ngôi chùa nổi tiếng được ghi chép trong các sách địa chí trước đây như sách Lịch Triều Hiến chương loại chí   (tập 1) của Phan Huy Chú, sách Thanh Hóa tỉnh chí ,  sách Đồng Khánh địa dư chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn. Sách Tự điển di tích Văn hóa Việt Nam của Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội 1993. Các sách trên đều thống nhất chép về ngồi chùa như sau: Chùa được xây dựng vào khoảng niên hiệu Chính Hoà (1680-1703) đời Lê Hy Tông trên núi Bằng Trình thuộc làng Bằng Trình, huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hoá. Chùa nhìn ra sông Lương, sau chùa có hang đá thông suốt từ phía đông sang phía tây. Cạnh chùa có tháp cửu phẩm liên hoa nhưng đã bị sụp đổ. Tĩnh Vương Trị Sâm có đề thơ vịnh cảnh chùa:

Phiên âm:

Sơn thuỷ hồi hoàn giác hữu tình,

Luân Huân thụy khí uỷ Bằng Trình.

Nhất diều thạch khiếu thông tà kính,

Cửu phẩm kim đài ỷ tiểu bình.

Thiên thị nhân quy sơ nguyệt thướng,

Ngư than kích độ vãn trào sinh.

Thử lai chính nghĩ trường phong thuỷ,

Thần bạch tùng xa tụng Thái Bình.

Dịch:

Non nước quanh co thật hữu tình,

Khí lành cuộn thổi bước hành trình.

Hang đá mở thông con đường dối,

Đài sen tựa vách núi chênh vênh.

Người về xóm chợ trăng non mọc,

Thuyền ghé bãi sông nước triều dềnh.

Xem ra cảnh vận dường tươi đẹp

Theo xe trẻ hát ngợi Thái Bình.

(Bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên)

Theo sự mô tả của các sách địa chí trước đây, chùa Thái Bình là một di tích nằm ở một vùng thắng tích nổi tiếng được người xưa ca tụng, về quy mô, ngoài chùa chính là nơi thờ Phật, chùa còn có cả tháp cửu phẩm Liên Hoa. Loại hình kiến trúc gồm có cả chùa và tháp cửu phẩm Liên Hoa trong các công trình tín ngưỡng trước đây thường nói lên quy mô to lớn của công trình.

Hiện nay, trải qua năm tháng thời gian những biến động của lịch sử chiến tranh và sự khắc nghiệt của thời tiết, diện mạo của ngôi chùa đã bị phá huỷ hoàn toàn, chỉ còn lại đất đai, nền móng và một số di vật. Năm 2002, bằng sự đóng góp của nhân dân trong vùng và du khách thập phương, một phần diện mạo của ngôi chùa đã được xây dựng lại nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân.

Có thể nói, di tích thắng cảnh núi Bằng Trình và chùa Thái Bình xã Thiệu Quang là di tích có giá trị về nhiều phương diện. Qua tìm hiểu, nghiên cứu về di tích, chúng ta biết được thêm nhiều tư liệu quý về lịch sử, văn hoá, kiến trúc ở vùng đất này. Giá trị của di tích này còn có tác dụng bồi dưỡng tinh yêu quê hương - đất nước con người cho chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau, đồng thời nó còn có giá trị hấp dẫn về du lịch của du khách đối với một vùng đất. Với tất cả những gì còn lại ở núi Bằng Trình và Chùa Thái Bình đều là vô giá, bởi vì đây là công trình nhân tạo và thiên tạo được gắn kết, hoà quện vào nhau rất độc đáo và thơ mộng, làm cho du khách đến một lần và nhớ mãi.

(Trích yếu: Lý lịch di tích LSVH chùa Thái Bình, xã Thiệu Quang).



Tin liên quan
Tin nổi bật
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement

image advertisement

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: UBND Xã Thiệu Quang
Địa chỉ: UBND Xã Thiệu Quang
Email: thieuquang@thanhhoa.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Ngô Xuân Dũng; Chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã; Số ĐT: 0982596567
Ghi rõ nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa xã Thiệu Quang hoặc thieuquang.thanhhoa.gov.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.

Website được thiết kế bởi VNPT

image banner